Sáng ngày 6/5/2026, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) Phan Xuân Thủy chủ trì cuộc họp điều độ công tác đầu tư tháng 4/2026, triển khai nhiệm vụ tháng 5 và quý 2/2026 đối với các lĩnh vực công nghiệp than, công nghiệp điện và các lĩnh vực liên quan.
Kết quả thực hiện đầu tư 4 tháng đầu năm 2026
Trong tháng 4/2026, giá trị thực hiện đầu tư đạt 1.070 tỷ đồng, nâng lũy kế 4 tháng đầu năm lên 3.425 tỷ đồng, bằng 134% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, giá trị thực hiện đầu tư lĩnh vực than đạt trên 2.400 tỷ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ; lĩnh vực điện đạt 483 tỷ đồng, tăng 174% so với cùng kỳ; lĩnh vực khoáng sản - hóa chất đạt 416 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ; các lĩnh vực khác đạt 60 tỷ đồng.
Song song với thực hiện đầu tư, công tác giải ngân vốn đầu tư đạt trên 2.700 tỷ đồng trong 4 tháng đầu năm, tăng 16% so với cùng kỳ.
TKV đã thông qua/phê duyệt 22 dự án và điều chỉnh chuyển bước kế hoạch 34 dự án để làm cơ sở triển khai thực hiện.
Đối với các dự án trọng điểm, Phó Tổng Giám đốc yêu cầu đảm bảo tiến độ hoàn thành đào lò các dự án hầm lò lớn; khởi công các dự án mới trong quý 2/2026; đẩy nhanh các dự án băng tải vận chuyển than; đảm bảo tiến độ các dự án nhiệt điện, đặc biệt là Nhà máy Nhiệt điện Na Dương 2.
Đối với các dự án mỏ, cần tập trung hoàn thành kế hoạch đào lò xây dựng cơ bản, đặc biệt là 2 dự án trọng điểm tại Công ty Than Hạ Long và Công ty Than Mạo Khê. Bên cạnh đó, các đơn vị khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thực hiện thủ tục quyết toán các dự án đã hoàn thành.
Nhà máy Tuyển than 4 được đầu tư hiện đại với công suất thiết kế 7 triệu tấn/năm của Công ty Tuyển than Cửa Ông.
Lộ trình đến năm 2045
Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, hydrogen và amoniac xanh được xem là những nguồn năng lượng thay thế mới.
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đang xây dựng lộ trình phát triển hydrogen nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “carbon cao” sang “carbon thấp”.
Theo nghiên cứu, TKV có nhiều lợi thế để hình thành các cụm công nghiệp hydrogen tích hợp (hydrogen hubs). Đáng chú ý, tập đoàn hiện sở hữu hơn 41 triệu m2 bãi thải và khu vực mỏ đã kết thúc khai thác, tạo dư địa lớn để phát triển các dự án điện mặt trời, điện gió với quy mô 3 - 5 GW. Đây sẽ là nguồn điện đầu vào phục vụ sản xuất hydrogen xanh bằng công nghệ điện phân nước.
Ngoài quỹ đất, TKV còn có lợi thế về hệ thống cảng biển, kho bãi và hạ tầng logistics tại Quảng Ninh, giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư cho các trung tâm lưu trữ và trung chuyển hydrogen, amoniac xanh.
Một điểm quan trọng là nhu cầu sử dụng hydrogen nội bộ của TKV được dự báo rất lớn. Trong lĩnh vực hóa chất, Tổng công ty MICCO hiện tiêu thụ khoảng 13.500 tấn hydrogen mỗi năm thông qua amoniac nhập khẩu để sản xuất thuốc nổ công nghiệp.
Trong lĩnh vực điện lực, các nhà máy nhiệt điện than như Cẩm Phả, Na Dương hay Cao Ngạn có thể sử dụng amoniac để đồng đốt, với nhu cầu quy đổi lên tới hơn 205.000 tấn hydrogen/năm sau năm 2030. Ngoài ra, hydrogen cũng có thể được dùng để thay thế nhiên liệu cho xe tải mỏ và các lò nhiệt trong ngành luyện kim.
TKV xây dựng lộ trình phát triển theo 3 giai đoạn. Giai đoạn đến năm 2030 tập trung xây dựng nền tảng pháp lý, triển khai các dự án thí điểm và đào tạo nhân lực, với mục tiêu sử dụng khoảng 19,3 nghìn tấn hydrogen/năm.
Giai đoạn 2031 - 2040 sẽ mở rộng quy mô thương mại, hình thành các cụm công nghiệp hydrogen tại Quảng Ninh và Tây Nguyên, đồng thời triển khai đồng đốt amoniac tại các nhà máy nhiệt điện than.
Đến năm 2045, TKV hướng tới hoàn thiện chuỗi giá trị hydrogen xanh, đạt công suất sản xuất từ 136.000 - 494.000 tấn/năm, đủ đáp ứng nhu cầu nội bộ khoảng 233.630 tấn/năm và từng bước tham gia thị trường xuất khẩu.







