Áp lực cạnh tranh và chi phí đầu vào
Tại phiên thảo luận Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của Tổng Công ty Hóa chất và Dịch vụ Dầu khí - CTCP (PVChem, HNX: PVC), các lãnh đạo doanh nghiệp đã trực tiếp giải đáp, làm rõ bức tranh hoạt động trong giai đoạn tới.
Theo đó, dựa trên kịch bản hoạt động khoan tại Việt Nam giai đoạn 2025–2030 có thể đạt trung bình 90–100 giếng mỗi năm, cao hơn đáng kể so với trước đây; đồng thời đặt ra khả năng tham gia của PVChem tại các dự án lớn như Lô B – Ô Môn, cũng như mức độ cạnh tranh trên thị trường dung dịch khoan.
Chia sẻ về nội dung này, ông Trần Ngọc Lan - Ủy viên HĐQT PVChem, cho biết kịch bản 90–100 giếng khoan/năm là kịch bản cơ sở do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam xây dựng cho giai đoạn 2025–2026 và các năm tiếp theo trong hoạt động thăm dò, khai thác. Tuy nhiên, theo ông Lan, số lượng giếng khoan không phải yếu tố duy nhất quyết định nhu cầu dịch vụ.
Ông phân tích, đặc thù của từng loại giếng khoan có sự khác biệt lớn.
“Ví dụ như tại Lô B, có những giếng khoan với thời gian khoan chỉ 4–5 ngày, nên nhu cầu dung dịch khoan sẽ thấp hơn rất nhiều so với các giếng khoan truyền thống kéo dài 1–4 tháng”, ông Lan cho biết.

Ông Trần Ngọc Lan - Ủy viên HĐQT PVChem.
Về cạnh tranh thị trường, lãnh đạo PVChem thừa nhận áp lực đang gia tăng rõ rệt so với trước đây. Nếu như giai đoạn trước doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo, thì hiện nay sự tham gia của nhiều đối thủ khiến môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn. Dù vậy, PVChem vẫn xác định mục tiêu duy trì thị phần trong lĩnh vực cung cấp dung dịch khoan.
Theo ông Lan, năm 2025, PVChem có hợp đồng cung cấp dịch vụ cho khoảng 40 giếng khoan. Sang năm 2026, doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng cho khoảng 30 giếng và tiếp tục tham gia các gói thầu mới.
“Kỳ vọng năm 2026, số lượng giếng khoan mà PVChem cung cấp dịch vụ cũng khoảng 30 giếng, chiếm phần lớn thị phần trong nước”, ông nói.
Đối với dự án Lô B – Ô Môn, được xem là một trong những dự án trọng điểm của ngành dầu khí với quy mô lên tới hàng nghìn giếng khoan, PVChem xác định đây là cơ hội chiến lược. “Chúng tôi sẽ tập trung nguồn lực, nhân lực và công nghệ để tham gia sâu, không chỉ ở dung dịch khoan mà còn các dịch vụ kỹ thuật liên quan”, ông Lan nhấn mạnh.
Liên quan đến tác động của biến động địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là căng thẳng liên quan Iran, ông Lan cho rằng đây là yếu tố có ảnh hưởng 2 chiều. Một mặt, giá dầu tăng có thể thúc đẩy hoạt động thăm dò, khai thác, qua đó tạo thêm nhu cầu dịch vụ. Mặt khác, chi phí vận chuyển và giá nguyên vật liệu đầu vào, đặc biệt là các hóa chất phục vụ dung dịch khoan cũng gia tăng.
“PVChem luôn bám sát thị trường và các hợp đồng đã ký để có phương án điều chỉnh phù hợp, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh”, ông Lan cho biết.

Tổng Giám đốc PVC Dương Trí Hội đứng lên phát biểu.
Bổ sung thêm, Tổng Giám đốc Dương Trí Hội cho biết hiện PVChem đang chiếm khoảng 75–80% thị phần cung cấp dung dịch khoan và dịch vụ kỹ thuật tại Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp đang phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn quốc tế như Baker Hughes cùng nhiều đơn vị khác.
Ông Hội nhấn mạnh, yếu tố quan trọng không chỉ là số lượng giếng khoan mà là giá trị dịch vụ trên từng giếng.
“Có những giếng khoan giá trị dịch vụ lên tới 4–5 triệu USD, nhưng cũng có giếng chỉ khoảng 70.000 USD. Vì vậy, hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào đặc thù từng dự án”, ông nói.
Liên quan đến dự án Lô B – Ô Môn, Tổng Giám đốc PVChem cho biết doanh nghiệp đã trúng thầu gói cung cấp dầu nền với giá trị khoảng 16 triệu USD. Dự án này dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026–2031, kéo dài khoảng 5 năm.
Về tác động của giá dầu, ông Hội cho rằng ảnh hưởng từ căng thẳng Trung Đông mang tính ngắn hạn và không tác động quá lớn đến kế hoạch thăm dò, khai thác trong dài hạn. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chi phí vận hành của doanh nghiệp vẫn chịu áp lực do giá nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào tăng.
Hàng loạt dự án được kỳ vọng
Bên cạnh mảng kinh doanh cốt lõi, cổ đông cũng đặt nhiều câu hỏi liên quan đến tiến độ và hiệu quả các dự án đầu tư mới, đặc biệt là dự án nhà máy khí công nghiệp hợp tác với Messer và dự án tái chế nhựa PET.
Tổng Giám đốc Dương Trí Hội cho biết PVChem đang triển khai chiến lược đầu tư theo từng giai đoạn. Trong giai đoạn 2026–2028, doanh nghiệp ưu tiên các dự án liên doanh, liên kết nhằm giảm áp lực vốn và chia sẻ rủi ro.
Đối với dự án tái chế nhựa PET (Petrochip), ông Hội cho biết dự án đã được khởi công ngày 22/4. Nếu không phát sinh yếu tố bất lợi, dự án dự kiến đi vào vận hành thương mại trong quý I/2027.
“Các chỉ số tài chính của dự án tương đối tích cực, với IRR (tỉ suất hoàn vốn nội bộ) khoảng 18%”, ông thông tin.
Tuy nhiên, lãnh đạo PVChem cũng thẳng thắn nhìn nhận rủi ro lớn nhất của dự án nằm ở nguồn nguyên liệu đầu vào.
“Sản phẩm tái chế phụ thuộc vào việc thu gom, do đó luôn tiềm ẩn rủi ro. Chúng tôi đã hợp tác với các đối tác để đảm bảo nguồn cung ổn định”, ông nói.

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của Tổng Công ty Hóa chất và Dịch vụ Dầu khí - CTCP (PVChem, HNX: PVC).
Đối với dự án nhà máy khí công nghiệp liên doanh với Messer, PVChem dự kiến xây dựng nhà máy tại khu vực Cái Mép với công suất khoảng 200.000 tấn/năm, sản xuất các loại khí như Nitơ, Oxy, Argon. Dự án tận dụng nguồn nhiệt lạnh từ kho khí của PV GAS, giúp tiết kiệm năng lượng trong vận hành.
“IRR của dự án này khoảng hơn 13%. Biên lợi nhuận ngành khí công nghiệp không cao do phạm vi cung cấp giới hạn trong bán kính khoảng 200 km, đồng thời phải cạnh tranh với các nhà máy có thể tận thu khí trong quá trình sản xuất”, ông Hội cho biết.
Hiện dự án đang hoàn thiện thủ tục đầu tư, dự kiến được cấp phép trong tháng 5 và có thể khởi công vào tháng 6 hoặc đầu tháng 7/2026. Thời điểm vận hành thương mại dự kiến vào quý I/2028.
Ngoài 2 dự án trên, PVChem cũng đang nghiên cứu hàng loạt cơ hội đầu tư khác như xử lý và chế biến tro xỉ tại Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, sản xuất axit sulfuric tại Khu kinh tế Nghi Sơn với tổng mức đầu tư khoảng 140 triệu USD, cùng các dự án sản xuất xút và hóa chất khác.
Theo Tổng Giám đốc PVChem, việc lựa chọn mô hình liên doanh, liên kết trong giai đoạn đầu xuất phát từ thực tế năng lực triển khai dự án và nguồn vốn của doanh nghiệp còn hạn chế. “Liên doanh giúp chia sẻ rủi ro và đảm bảo tính an toàn trong đầu tư”, ông nói.
Về dài hạn, cùng với kế hoạch tăng vốn lên khoảng 5.000 tỷ đồng, PVChem đặt mục tiêu trong giai đoạn 2028–2031 sẽ chủ động triển khai các dự án lớn với vai trò dẫn dắt.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng mở rộng sang lĩnh vực kinh doanh ethanol thông qua hợp tác BCC tại Nhà máy Ethanol Dung Quất. Đây được kỳ vọng là mảng bổ trợ trong bối cảnh thị trường xăng sinh học E10 được triển khai rộng rãi từ cuối tháng 4.
Song song, các mảng truyền thống như hóa chất khai thác tiếp tục được duy trì, đóng góp ổn định vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhìn tổng thể, lãnh đạo PVChem cho thấy định hướng vừa củng cố vị thế ở mảng cốt lõi, vừa từng bước mở rộng sang các lĩnh vực mới thông qua đầu tư có chọn lọc. Trong bối cảnh thị trường biến động và cạnh tranh gia tăng, chiến lược này được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp duy trì tăng trưởng và tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.







