Loạt ngân hàng sụt giảm mạnh tiền gửi
Theo báo cáo tài chính quý I, nhiều ngân hàng ghi nhận lượng tiền gửi khách hàng giảm đáng kể. Đáng chú ý nhất là BIDV khi lượng tiền gửi giảm hơn 82.000 tỷ đồng, từ hơn 2,222 triệu tỷ đồng cuối năm 2025 xuống còn hơn 2,14 triệu tỷ đồng vào cuối quý I, tương đương giảm 3,7%. Dù vậy, BIDV vẫn là ngân hàng có quy mô tiền gửi lớn nhất hệ thống.
Không chỉ các ngân hàng quốc doanh , nhiều ngân hàng thương mại cổ phần cũng ghi nhận xu hướng đi xuống. MB giảm hơn 15.000 tỷ đồng tiền gửi, tương đương 1,7%. Sacombank giảm hơn 17.500 tỷ đồng; Techcombank giảm hơn 19.000 tỷ đồng; ACB giảm hơn 16.000 tỷ đồng.
Nhiều ngân hàng khác như TPBank, SeABank, MSB hay các ngân hàng nhỏ như VietBank, PGBank, Saigonbank cũng chung tình trạng sụt giảm huy động.
Theo các chuyên gia, yếu tố mùa vụ là nguyên nhân đầu tiên dẫn tới hiện tượng này. Quý I hàng năm thường là giai đoạn dòng tiền rút khỏi hệ thống ngân hàng để phục vụ nhu cầu chi tiêu dịp Tết Nguyên đán, thanh toán lương thưởng và bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp sau kỳ nghỉ kéo dài. Đây là xu hướng thường thấy trong nhiều năm qua.
Tiền gửi nhiều ngân hàng sụt giảm ngay từ quý đầu năm.
Tuy nhiên, việc hàng loạt ngân hàng cùng ghi nhận tiền gửi giảm cho thấy thị trường huy động vốn đang đối mặt với áp lực lớn hơn trước.
Trao đổi với PV Tiền Phong , PGS, TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ Tài chính, Trường Đại học Đại Nam - phân tích: Một phần đáng kể dòng tiền đang chảy vào thị trường chứng khoán. Việc VN-Index vượt mốc 1.920 điểm phản ánh sự cải thiện rõ nét về tâm lý nhà đầu tư cũng như sự quay trở lại của dòng tiền lớn. Động lực của thị trường đến từ hàng loạt yếu tố tích cực như quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao của Chính phủ, kỳ vọng nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, các đánh giá khả quan từ nhiều tổ chức quốc tế, cùng với việc áp lực từ khủng hoảng năng lượng toàn cầu có dấu hiệu hạ nhiệt.
Đáng chú ý, dòng tiền hiện nay không còn mang tính “đầu cơ lan rộng” như trước mà có sự chọn lọc mạnh hơn. Nhà đầu tư tập trung vào các nhóm ngành được kỳ vọng hưởng lợi trực tiếp từ đầu tư công, tiêu dùng nội địa, công nghệ và các ngân hàng lớn có nền tảng tài chính tốt. Với nhóm nhà đầu tư này, chứng khoán đang trở thành kênh ưu tiên do khả năng sinh lời được đánh giá cao hơn gửi tiết kiệm.
Bên cạnh chứng khoán, bất động sản vẫn tiếp tục là nơi hấp thụ dòng tiền, dù thị trường đang trong giai đoạn điều chỉnh và giá nhà đất, chung cư ở nhiều khu vực có xu hướng giảm.
Theo ông Đức, không ít nhà đầu tư vẫn kỳ vọng chu kỳ tăng giá sẽ sớm quay trở lại khi đầu tư công được đẩy mạnh, hạ tầng tiếp tục mở rộng và mặt bằng lãi suất được kiểm soát ổn định. Trong bối cảnh lo ngại lạm phát có thể gia tăng trong thời gian tới, bất động sản vẫn được xem là kênh giữ tài sản dài hạn đối với nhiều người dân.
Ngoài hai kênh truyền thống trên, thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng đang có dấu hiệu phục hồi sau giai đoạn khó khăn kéo dài. Các chính sách tháo gỡ pháp lý, tái cấu trúc nợ và cải thiện niềm tin thị trường đã giúp dòng vốn dần quay trở lại với kênh đầu tư này, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có năng lực tài chính và tài sản đảm bảo tốt.
Một xu hướng đáng chú ý khác là sự dịch chuyển của một phần dòng tiền sang crypto và tài sản số. Sau khi xuất hiện các định hướng xây dựng khung pháp lý thí điểm cho thị trường tài sản số, tâm lý nhà đầu tư đã tích cực hơn. Những diễn biến mới của thị trường quốc tế cùng với sự quan tâm ngày càng lớn đối với công nghệ blockchain, token hóa tài sản và tài sản kỹ thuật số khiến dòng tiền vào lĩnh vực này bắt đầu “ấm” trở lại.
Song song với đó, vàng tiếp tục là nơi trú ẩn quan trọng của dòng vốn. Trong bối cảnh giá dầu thô tăng trở lại kéo theo nguy cơ lạm phát gia tăng, nhiều nhà đầu tư lo ngại chi phí năng lượng, phân bón, lương thực và nguyên liệu đầu vào sẽ tiếp tục leo thang. Điều này thúc đẩy nhu cầu nắm giữ vàng như một công cụ phòng ngừa rủi ro và bảo toàn giá trị tài sản.
Theo ông Đức, sự phân tán dòng tiền vào nhiều loại tài sản cho thấy tâm lý nhà đầu tư hiện nay thiên về tìm kiếm cơ hội sinh lời và phòng vệ lạm phát, thay vì ưu tiên sự an toàn tuyệt đối như giai đoạn trước.
Ngân hàng đối mặt nhiều khó khăn
Ngoài áp lực cạnh tranh dòng tiền , hệ thống ngân hàng còn chịu sức ép từ chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã vượt 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, tốc độ huy động vốn tăng chậm hơn đáng kể.
Điều này khiến nhiều ngân hàng rơi vào thế khó. Nếu tăng mạnh lãi suất huy động để hút tiền gửi, chi phí vốn sẽ tăng lên, từ đó gây áp lực lên lãi suất cho vay và ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu giữ lãi suất ở mức thấp, dòng tiền có thể tiếp tục chảy sang các kênh đầu tư khác, tạo áp lực lên thanh khoản.
Tại cuộc họp cổ đông mới đây, ông Phan Đình Tuệ - thành viên HĐQT Sacombank - cho rằng, ngành ngân hàng hiện đang ở trạng thái “kẹp giữa”. Theo ông, nếu tăng lãi suất đầu vào quá cao để hút vốn, giá thành cho vay sẽ đội lên, gây khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Nhưng nếu hạ lãi suất quá thấp , dòng tiền sẽ rời khỏi hệ thống ngân hàng.







