shunshine group

Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ - Bài 1: Mệnh lệnh từ thực tiễn

Admin

26/02/2026 08:02

Trong bối cảnh đất nước đang triển khai nhiều quyết sách chiến lược dài hạn, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và HĐND 2026-2031 được kỳ vọng trở thành "mạch nối" bảo đảm tính liên tục của các chương trình phát triển.

Lời tòa soạn: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 không chỉ mở ra một nhiệm kỳ mới, mà còn đặt ra yêu cầu tiếp nối và hoàn thành những chương trình, chính sách đang được triển khai từ nhiệm kỳ trước. Trong bối cảnh đất nước đang thực hiện nhiều quyết sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thể chế và bảo đảm an sinh..., vấn đề đặt ra không chỉ là lựa chọn đại biểu, mà là làm thế nào để các cam kết và chương trình nghị sự không bị gián đoạn theo chu kỳ nhiệm kỳ.

Với tinh thần đó, Người Đưa Tin thực hiện tuyến 3 bài chủ đề "Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ" tập trung phân tích yêu cầu về tính liên tục của chính sách, trách nhiệm của đại biểu nhiệm kỳ mới trong việc theo đuổi đến cùng các vấn đề quốc kế dân sinh. Qua đó khẳng định "mạch nối nhiệm kỳ" cũng chính là mạch nối của trách nhiệm và niềm tin xã hội đối với bộ máy dân cử.

Yêu cầu tăng trưởng cao và tính liên tục của chính sách

Trải qua 15 khóa hoạt động, mỗi nhiệm kỳ Quốc hội đều gắn với những yêu cầu riêng của từng giai đoạn phát triển đất nước. Nếu ở những nhiệm kỳ trước, trọng tâm đặt vào ổn định thể chế, hoàn thiện khung pháp luật và ứng phó với những biến động lớn trong nước và quốc tế, thì Quốc hội khóa XVI được kỳ vọng chuyển mạnh từ "hoàn thiện" sang "dẫn dắt và mở đường cho phát triển", từ phản ứng chính sách sang kiến tạo các chiến lược dài hạn.

Ở cấp địa phương, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 cũng mang ý nghĩa tương tự. Đây không đơn thuần là việc hình thành một bộ máy mới, mà là lựa chọn lực lượng đủ năng lực và trách nhiệm để tiếp tục theo đuổi những chương trình, dự án và chính sách đang triển khai dang dở của nhiệm kỳ trước, từ đầu tư công, an sinh xã hội đến quản trị đô thị và nông thôn.

Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ - Bài 1: Mệnh lệnh từ thực tiễn - Ảnh 1.

Cùng với những quyết sách có ý nghĩa chiến lược, Đại hội XIV của Đảng đã phác họa rõ nét "hình hài" của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

Nhiệm kỳ mới diễn ra trong một bối cảnh đặc biệt khi đất nước bước vào giai đoạn triển khai đồng loạt nhiều quyết sách có tác động lâu dài tới cấu trúc phát triển kinh tế - xã hội và chất lượng quản trị quốc gia. Năm 2026 không chỉ mở đầu một chu kỳ kế hoạch mới, mà còn là thời điểm khởi động thực chất các mục tiêu chiến lược được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Theo Văn kiện Đại hội XIV, giai đoạn 2026-2030 là thời kỳ triển khai các chương trình hành động lớn gắn với tăng trưởng kinh tế, cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả điều hành. Hàng loạt nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra, trong đó có đẩy nhanh đầu tư vào các dự án hạ tầng chiến lược quốc gia; hoàn thiện mạng lưới giao thông liên vùng; phát triển hệ thống y tế và giáo dục theo hướng hiện đại; đồng thời tái cấu trúc bộ máy quản lý để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Các dự án hạ tầng quy mô lớn như đường bộ cao tốc Bắc - Nam, hệ thống logistics, hạ tầng số, cùng các chương trình đầu tư cho y tế cơ sở, bệnh viện tuyến cuối, trường học và đào tạo nhân lực... đang bước vào giai đoạn triển khai cao điểm. Đây đều là những chương trình có vòng đời kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ, đòi hỏi sự ổn định trong hoạch định chính sách và tính liên tục trong tổ chức thực hiện.

Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ - Bài 1: Mệnh lệnh từ thực tiễn - Ảnh 2.

Tổng Bí thư Tô Lâm (Ảnh: Media Quốc hội).

Trong bài viết "Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!", Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: Khoảng thời gian 5-10 năm tới chính là giai đoạn bản lề có ý nghĩa quyết định đối với 2 mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.

Trong khoảng thời gian không dài này, chúng ta vừa phải hoàn thành các mục tiêu của chặng đường 5 năm 2026-2030, vừa tạo nền tảng vững chắc để vươn tới các mốc phát triển cao hơn vào năm 2045. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa nước ta trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Điều đó đòi hỏi nền kinh tế liên tục trong nhiều năm phải tăng trưởng bình quân 10%/năm hoặc cao hơn - một tốc độ đột phá chưa từng có, nhưng là mục tiêu hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta biết phát huy tối đa các nguồn lực. Đến năm 2045, chúng ta phải thực hiện cho bằng được mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao, ngang tầm thế giới.

Thực tiễn phát triển những năm gần đây cho thấy yêu cầu đó không chỉ xuất phát từ tầm nhìn chiến lược, mà còn từ sức ép rất cụ thể của nền kinh tế.

Giai đoạn 2021-2025, GDP bình quân tăng khoảng 6,3% mỗi năm, đưa Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao của khu vực. Quy mô GDP tăng từ 346,6 tỷ USD năm 2020 lên trên 514 tỷ USD năm 2025; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD.

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn tới phải đạt mức cao hơn nhiều so với giai đoạn trước. Điều này đặt ra yêu cầu phải khai thông các điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế, nguồn lực và năng lực điều hành chính sách.

Bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính).

Đánh giá về bối cảnh phát triển giai đoạn tới, khi trao đổi với Người Đưa Tin, bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) nói rằng, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, nền kinh tế phải hội tụ đồng bộ nhiều điều kiện: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn nợ công và duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế. Đồng thời, việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển giữ vai trò then chốt.

Trong đó, đầu tư công tiếp tục được xác định là động lực dẫn dắt, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục và chuyển đổi số. Song song với đó, cần tạo điều kiện để khu vực tư nhân phát triển, trở thành trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng cũng phải chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào vốn và lao động sang mô hình dựa trên năng suất, hiệu quả phân bổ nguồn lực và đổi mới sáng tạo. Việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, nhất là trong các ngành có hàm lượng công nghệ cao, được coi là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Chất lượng đại biểu quyết định năng lực dẫn dắt phát triển

Trong bối cảnh đó, nhiệm kỳ 2026-2031 không chỉ là một chu kỳ tổ chức mới của bộ máy dân cử, mà là giai đoạn then chốt để bảo đảm tính liên tục của các quyết sách phát triển. Những chương trình lớn về hạ tầng, y tế, giáo dục, cải cách thể chế... nếu bị đứt gãy sẽ làm chậm nhịp phát triển và gia tăng chi phí điều chỉnh chính sách.

Thực tế cơ cấu đại biểu Quốc hội giữa hai nhiệm kỳ cũng cho thấy sự điều chỉnh theo hướng nâng cao tính chuyên nghiệp và tính đại diện.

Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ - Bài 1: Mệnh lệnh từ thực tiễn - Ảnh 4.
Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ - Bài 1: Mệnh lệnh từ thực tiễn - Ảnh 5.

Ảnh: Media Quốc hội.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, đại biểu chuyên trách ở Trung ương chiếm 22,25%; đại biểu là người dân tộc thiểu số chiếm 17,84%; đại biểu nữ chiếm 30,26%.

Bước sang nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, dự kiến đại biểu ở các cơ quan Trung ương sẽ chiếm 43,4%; đại biểu là người dân tộc thiểu số bảo đảm ít nhất 18%, đồng thời quan tâm tới các dân tộc rất ít người chưa có đại diện; đại biểu nữ bảo đảm ít nhất 35% trong danh sách chính thức những người ứng cử.

Việc điều chỉnh cơ cấu này nhằm bảo đảm Quốc hội vừa có tính kế thừa, vừa tăng cường năng lực chuyên môn và tính đại diện xã hội để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ - Bài 1: Mệnh lệnh từ thực tiễn - Ảnh 6.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh (Ảnh: Media Quốc hội).

Từ yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, tại Hội nghị bồi dưỡng dành cho người lần đầu ứng cử đại biểu Quốc hội diễn ra ngày 12/2/2026, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh nhấn mạnh, chất lượng hoạt động của Quốc hội khóa mới phụ thuộc trước hết vào chất lượng đội ngũ đại biểu.

Theo bà Thanh, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Vì vậy, mỗi đại biểu phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn và kỹ năng hoạt động nghị trường để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

Phó Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý, đại biểu Quốc hội không chỉ thực hiện chức năng lập pháp và giám sát, mà còn phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri, phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân vào các quyết sách của Quốc hội.

"Niềm tin của cử tri chính là thước đo đối với uy tín và trách nhiệm của mỗi đại biểu", bà Thanh nêu rõ.

Chi tiết đơn vị bầu cử, ứng viên đại biểu Quốc hội khóa XVI tại 34 tỉnh, thành

Ở cấp địa phương, Hội đồng nhân dân các cấp giữ vai trò trực tiếp quyết định và giám sát việc triển khai các chương trình phát triển gắn với đời sống người dân. Tính liên tục của các dự án hạ tầng, y tế, giáo dục và an sinh xã hội vì vậy không chỉ phụ thuộc vào chính sách ở Trung ương, mà còn gắn chặt với năng lực và trách nhiệm của bộ máy dân cử tại cơ sở.

Có thể thấy rằng, trong bối cảnh đất nước bước vào chặng đường thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, yêu cầu về tính liên tục của chính sách trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Do đó, yêu cầu đặt ra cho Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 không chỉ là ban hành những quyết sách mới, mà quan trọng hơn là trở thành những "mạch nối" vững chắc giữa các nhiệm kỳ, bảo đảm các chiến lược dài hạn được triển khai nhất quán, liên tục và hiệu quả.

(Còn nữa)

Bạn đang đọc bài viết "Kỳ vọng những "mạch nối" nhiệm kỳ - Bài 1: Mệnh lệnh từ thực tiễn" tại chuyên mục Nhịp sống. Mọi nội dung cộng tác vui lòng gọi hotline (0937636383hoặc gửi về địa chỉ email ([email protected]).